Header Ads

THÁNH THỂ HY TẾ TUYET VOI 14



CHƯƠNG 14: THÁNH LỄ HY TẾ GIAO HÒA HIỆU QUẢ NHẤT

Trong luật Môsê, Thiên Chúa truyển cho dân Do Thái không những phải dâng lễ toàn thiêu để nhìn nhận quyền chủ tể của Người, mà còn phải dâng lễ giao hòa để được những ơn lành vật chất và tránh được những tai ương. Các Hi Tế giao hòa này rất được người Do Thái quí trọng vì nhờ đó họ nhận được nhiều ơn lành và được giải thoát khỏi mọi sự dữ. Trong sách Các Vua Quyển I (Chương 7) có thuật lại rằng khi con cái Israel sắp sửa bị quân Philitinh tấn công. Họ nài xin ngôn sứ Samuen nài xin với Thiên Chúa cho họ. Ông Samuen lấy một con chiên và dâng lên Chúa làm lễ toàn thiêu để kêu xin Thiên Chúa dủ lòng thương xót dân Israel. Thế là Thiên Chúa đã gây hoảng hoạn trong hàng ngũ quân Philitinh khiến chúng bị quân Israel đánh bại. Chúng ta cũng đọc thấy khi đất Do Thái bị ôn dịch, vua Đavít đã dâng lễ toàn thiêu và lễ giao hòa lên Thiên Chúa và Người đã cắt mọi ôn dịch ra khỏi Israel (2V:24).


Nếu dân Do Thái vốn là dân cứng đầu cứng cổ mà đã được Thiên Chúa ban cho một lễ giao hòa hiệu quả như thế, chẳng lẽ Người không cho dân Kitô giáo một lễ giao hòa mạnh mẽ hơn sao? Nếu trong Cựu Ước, một con chiên được sát tế làm lễ giao hòa là phương thế để Thiên Chúa ban những ơn lành



cho những ai dâng lễ vật ấy, thì Hy Tế Chiên Con của Thiên Chúa trong Tân Ước hẳn phải có giá trị vượt xa biết bao, khi Hy Tế này được dâng làm Tế vật vô tội trên các bàn thờ của chúng ta và mang lại cho chúng ta một kho công nghiệp vô biên.

Thật vậy, Hội Thánh Kitô giáo được hưởng những đặc ân vượt xa những đặc ân của Hội Đường Do Thái. Mỗi hi tế của Cựu Ước chỉ có thể được dâng với một đối tượng duy nhất: lễ toàn thiêu được dâng để nhìn nhận uy quyền tuyệt đối của Thiên Chúa: Lễ giao hòa để nhận được những ơn lành từ Thiên Chúa. Ngoài ra, mỗi Hy Tế này có một nghi lễ riêng, nên không thể dâng hai hy tế trong cùng một nghi lễ. Còn trong Hội Thánh, mặc dù chỉ có một hình thức Hy Tế duy nhất, song có thể dâng với những ý chỉ khác nhau, và nhờ đó có thể nhận được nhiều hiệu quả hơn tất cả các hi lễ Do Thái.

Công Đồng Trentô nói rõ về điểm này, Công Đồng dạy rằng: Nếu ai nói rằng Hy Tế Thánh Lễ chỉ là hy tế ngợi khen và tạ ơn, hay chỉ là một sự tưởng nhớ Hy Tế đã hoàn tất trên Thập Giá,   hay chỉ đem lại ơn ích cho những người lãnh nhận, hay không được dâng vì người sống và người chết, để được tha tội, tha đau khổ, đền tội và các nhu cầu khác, thì người ấy bị vạ tuyệt thông (Khóa 22, Chương 3). Những điều này hàm chứa một tín điều mà không ai được phủ nhận nhưng phải chấp nhận, nếu không sẽ mắc tội trọng và bị án phạt đời đời. Vì vậy có thể khẳng định chắc chắn rằng cùng một Thánh Lễ có thể được dâng với các ý chỉ khác nhau và nhờ cùng một Thánh Lễ có thể xin và nhận được nhiều ơn khác nhau của Chúa. Chúng ta có thể cử hành, dự lễ, hay xin lễ để tôn vinh Thiên Chúa, tôn vinh Đức Mẹ, các Thiên thần và các Thánh, xin ơn mạnh khỏe và rỗi linh hồn, ơn tránh các hoạn nạn, ơn tha tội, hoán cải đời sống, ơn chết lành. Tất cả những ơn này có thể xin cho chính mình hay cho người khác, đồng thời có thể xin cho các linh hồn trong Luyện Ngục. Trên thực tế, chúng ta càng có nhiều ý chỉ bao nhiêu thì các ơn lành nhận được càng dồi dào bấy nhiêu.

Các nhà thần học cho biết Thánh Lễ là một lễ giao hòa mạnh mẽ biết bao. CHA MARCHANTIUS nói: “Hy Tế này có sức mạnh vô biên để nhận  được những điều ta xin, vì giá trị vô biên của Tế Vật, chức phẩm vô biên của linh mục. Không có ơn huệ hay Ân Sủng nào mà không thể nhận được. Cho dù Thánh Lễ được dâng để xin cho nhiều người bao nhiêu, thì Tế Vật Thánh này cũng có thể nhận được ơn cho tất cả các lời cầu xin của họ, vì Đức Kitô, Linh Mục Thượng Phẩm, là Đấng vô cùng đẹp lòng Thiên Chúa, vì các công



nghiệp Người dâng lên cho Chúa Cha và vô biên; vì cuộc Khổ Nạn của
Người, Máu Thánh của Người, các Thương Tích của Người có giá trị vô biên.

Qua những lời trên đây, chúng ta hiểu được tại sao Thánh Lễ có sức mạnh vô biên. Đó là do chức phẩm siêu vời của Con Người Đức Kitô, Đấng là Linh Mục Thượng Phẩm, đích thân dâng Hy Tế này lên Thiên Chúa những công nghiệp của Cuộc Khổ Nạn và Cái Chết của Người, là những điều có giá trị vô biên. Và vì Đức Kitô dâng cho Chúa Cha nhiều hơn là xin với Chúa Cha, làm sao Chúa Cha có thể từ chối lời xin của Con của Người? Về giá trị Thánh Lễ, Thánh Lerensô Giustinianô nói: “Không có hy tế nào siêu vời hơn, ích lợi hơn, đáng được Chúa Cha chấp nhận hơn Hy Tế Thánh Lễ, vì trong Thánh Lễ, các thương tích của Chúa Cứu Thế, các sự nhục nhã Người chịu, các trận đòn và cực hình khác, được dâng lên Thiên Chúa Cha. Trong Thánh Lễ, Chúa Cha nhìn thấy Nhân Tính Thánh của Người Con mà Người đã sai xuống trần gian để nhờ sự chuyển cầu của Người, những kẻ tội lỗi được ơn tha tội, kẻ sa ngã được đứng dậy, người công chính được phúc trường sinh.”

Thế nên, khi linh mục và giáo dân tham dự Thánh Lễ dâng lên Cha Hằng Hữu những nỗi thống khổ và công nghiệp của Đức Kitô, lời cầu xin của họ được chấp nhận nhờ những hồng ân này.

Trong luật Môsê, Thiên Chúa cấm các thẩm phán không được nhận của đút lót: „Ngươi sẽ không làm xiêu vẹo án xử, ngươi sẽ không nể mặt nể mày, ngươi sẽ không nhận quà lỡi, vì quà lỡi làm mù mắt kẻ khôn ngoan và đảo điên lời lẽ những kẻ công chính‟ (Đnl 16:19). Sở dĩ có lệnh cấm này là vì bản tính  yếu đuối của con người, nó làm cho sự xét xử không thể không bị ảnh hưởng bởi những quà tặng đắt tiền. Nhưng khi Kinh Thánh nói: Quà lỡi làm mù mắt những kẻ khôn ngoan, điều này không áp dụng cho Thiên Chúa là Đấng toàn trí, vì Người không thể lóa mắt bởi những quà tặng. Thế nhưng chúng ta không sai khi khẳng định rằng quà tặng của Thánh Lễ làm cho Thiên Chúa thay đổi phán đoán của Người và hủy bỏ phán quyết. Thật vậy, chúng ta chắc chắn rằng khi nhận từ tay chúng ta một món quà có giá trị thục sự như vậy, đức công chính của Thiên Chúa kết hợp với lòng thương xót của Người để lắng nghe và đón nhận những lời cầu xin của chúng ta.

Một tác giả đạo đức nói: “Trong Thánh  Lễ chúng ta không chỉ xin với tư cách những người nài xin lòng thương xót Chúa: Chúng ta cũng dâng một mòn quà tương đương với những ân huệ chúng ta cầu xin, chúng ta mua những ân huệ ấy với giá cao, đó là các nỗi thống khổ của Chúa Giêsu Kitô. “Bạn hãy xem các món quà chúng ta dâng đắt giá thế nào, những ân huệ



chúng ta mua của Thiên Chúa với giá cao biết bao. Chúng ta dâng Nhân Tính Thánh của Chúa  Kitô, là nhân tính đã chịu đánh đòn, chịu đội mão gai và chịu đóng đinh, để tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta dâng cùng một Nhân Tính đã kết hợp với Thần Tính và đã đạt tới phẩm chất cao nhất nhờ sự kết hợp này. Chúng ta dâng những vết thương mà Nhân Tính Thánh này phải chịu và những giọt nước mắt và Máu mà Nhân Tính này đã đổ ra.

Trên thực tế, những gì chúng ta dâng lên Thiên Chúa trong Thánh Lễ còn nhiều hơn những gì chúng ta cầu xin với Người trong kinh nguyện, vì vậy hầu như chắc chắn chúng ta không thể bị từ chối. Bởi vì những điều chúng ta xin là những vật thụ tạo và trần thế, còn cái chúng ta dâng là Thần Thiêng và vô giá. Chúng ta có thể nào hình dung là Thiên Chúa là Đấng không thể chịu thua kém về lòng quảng đại, và là Đấng đã hứa ban thưởng dù chỉ vì một ly nước lã, mà Người lại không đáp đền khi chúng ta dâng lên Người Chén Máu Con Một Yêu Dấu của Người, máu được đổ ra lần nữa trong Thánh Lễ và kêu lên Người để xin Ân Sủng và Lòng Thương Xót cho chúng ta sao?

Sau Bữa Tiệc Ly Chúa nói với các Tông Đồ: „Quả thật, quả thật, Thầy bảo anh em điều gì anh em xin cùng Cha nhân danh Thầy, thì Người sẽ ban cho anh em „(Ga 16:23). Có lúc nào thích hợp hơn là trong Thánh Lễ để dâng lên Cha những lời cầu xin của chúng ta nhân danh Con Của Người, khi mà chúng ta dâng chính Chúa Con lên Chúa Cha, và cùng với Người chúng ta dâng những lời cầu khẩn Người  đã thân thưa với Cha khi còn ở trần gian này? THÁNH BONAVENTURA nói: “Khi một ông tướng bị bắt, ông chỉ có thể được thả khi có một khoản chuộc lớn.” Chúng ta cũng thế, chúng ta bắt giữ Chúa Giêsu trong Thánh Lễ, và chúng ta chỉ thả Người ra nếu Người ban ơn tha tội và hứa ban phúc trường sinh cho chúng ta. Khi linh mục giơ cao Chúa Giêsu trong Bánh Thánh, thì cũng tựa như ngài kêu mời tín hữu: “Đây là Đấng cả vũ trụ không thể chứa nổi đang nằm trong tay chúng ta. Chúng ta không để Người đi bao lâu Người chưa chấp nhận những lời cầu xin của chúng ta.” Trong trường hợp này, chúng ta phải noi gương ông Giacóp và nói như ông: “Tôi sẽ không để Ngài đi nếu Ngài không chúc phúc cho tôi (St
32:26).

Đây là những lời của CHA MOLINA: “Nhờ Hy Tế Thánh Lễ quá đắt giá và quá đẹp lòng Chúa, chúng ta có thể nhận được tất cả những gì cần cho phần rỗi chúng ta từ Thiên Chúa, Đức Mẹ và các Thánh. Và những gì chúng ta bị khước từ qua Thánh Lễ thì chúng ta không thể được bằng bất cứ phương tiện nào khác. “Chúng ta đã có quá đủ sự thật về lời phát biểu này. Vì trong



Thánh Lễ chúng ta không cầu nguyện một mình; còn có linh mục, các Thiên Thần và chính Đức Kitô chuyển cầu cùng với chúng ta và cho chúng ta. Chúng ta cũng không chỉ dâng lên những lời cầu xin, chúng ta còn dâng lên Thiên Chúa một món quà ngang hàng với chính Người. Nếu lời cầu xin của chúng ta bị khước từ trong những hoàn cảnh như thế, thử hỏi chúng ta có hể hy vọng được chấp nhận khi nào và ở đâu khác không?

TẠI SAO MỘT SỐ LỜI CẦU XIN KHÔNG ĐƯỢC CHẤP NHẬN?

Đến đây chúng ta có thể hỏi, nếu Thánh Lễ có giá trị bao la như thế, tại sao các lời cầu xin của những người dâng lễ lại không luôn luôn được chấp nhận? Cha GOBAT giải thích: “Không phải hết mọi người đều nhận được những điều họ muốn, bởi vì mặc dù không có hành vi Thờ Phượng nào cao hơn Thánh Lễ dễ được Chúa đón nhận để ban cho chúng ta những ơn chúng ta mong muốn, song cũng đúng là hiệu quả của Thánh Lể còn tùy thuộc vào một số điều kiện không phải lúc nào cũng sẵn có nơi hầu hết mọi người.” HỒNG Y BONA nói rõ hơn về điểm này: “Bản chất của lời cầu xin là giả thiết rằng người được kêu xin thì có tự do giữ lại cái mà người ta xin mình. Khi chúng ta cầu xin một điều gì, chúng ta nêu ra lý do mà chúng ta nghĩ là sẽ nặng ký với Thiên Chúa, nhưng Người hoàn toàn không bị bó buộc phải ban cho điều chúng ta xin. Đồng thời, có thể quả quyết chắc chắn rằng chúng ta không bao giờ dâng Thánh Lễ một cách vô ích. Nếu chúng ta không nhận được chính điều chúng ta xin, chắc chắn rằng chúng ta vẫn nhận được một điều gì khác có ích hơn cho chúng ta. Và nếu điều ấy không được ban ngay cho chúng ta, chúng ta cũng sẽ nhận được vào lúc Chúa muốn. Hơn nữa, nhiều Ân Sủng quá to lớn khiến cần phải có nhiều hơn là một hay hai Thánh Lễ nếu chúng ta muốn nhận được.

Chúng ta biết được những điều ấy qua câu trả lời của Chúa cho THÁNH GERTRUDE bà hỏi Chúa tại sao những lời cầu nguyện của bà quá hiếm khi được trả lời. Người đáp: “Ta là sự Khôn Ngoan vô biên. Ta không luôn luôn ban những điều con cầu xin theo ý con, nhưng Ta ban cho con một điều gì đó có ích hơn cho con, vì bản tính yếu đuối của con người mà con không thể nào biết được điều gì là tốt nhất cho con.” Một lần khác Thánh Nữ hỏi Chúa: “Con cầu nguyện quá nhiều cho bạn bè thì có ích gì, vì con thấy họ chẳng có chút tiến bộ nào cả.” Người đáp: “Đừng ngạc nhiên khi không nhìn thấy những kết quả hiển nhiên của lời cầu nguyện của con. Ta sắp đặt các ơn ấy để chúng sẽ tạo ra những kết quả tốt nhất. Ta nói với con, mọi lời cầu nguyện cho bất cứ ai đều gia tăng hạnh phúc vĩnh cửu, mặc dù xác phàm không nhìn thấy nó hiệu quả như thế nào.”



Mọi người phải bằng lòng với câu trả lời này, và tin tưởng vào lời bảo đảm của Chúa Kitô rằng không một lời cầu nguyện chân thành nào mà không đạt hiệu quả hay phần thưởng. Vậy nếu không một lời cầu nguyện nào mà không đạt hiệu quả, thì huống hồ là Thánh Lễ, lời cầu nguyện tuyệt vời nhất. hãy ghi tạc vào lòng những lời này của Chúa: “Không một lời cầu nguyện chân thành nào mà không đạt được hiệu quả.” Lời cầu nguyện chân thành là lời cầu nguyện dâng lên với lòng tin tưởng và sốt sắng. Người cầu nguyện mà thiếu lòng tin tưởng thì chẳng nhận được gì hay nhận được rất ít, như câu truyện sau đây sẽ chứng tỏ.

NẠN CHÂU CHẤU

Trong tiểu sử TU VIỆN TRƯỞNG SÊVÊRINÔ, chúng ta đọc thấy truyện một bầy châu chấu rất đông đáp xuống một vùng quê và tàn phá toàn bộ hoa màu tại đó. Dân trong vùng bị thất mùa hoàn toàn liền tìm đến Tu viện trưởng và xin ngài cầu nguyện để họ thoát khỏi thiên tai này. Xúc động trước cảnh khốn đốn của dân chúng, ngài bảo họ tụ tập trong nhà thờ rồi giảng cho họ một bài rất mạnh về sự cần thiết phải cầu nguyện và đền tội. Kết luận, ngài nói: “Tôi không biết có  phương  thế chuyển cầu nào tốt  hơn là HY TẾ THÁNH LỄ. Vì vậy tôi sẽ dâng lễ để cầu xin cho anh chị em khỏi bị mất mùa. Tất cả anh chị em hãy hợp lòng với tôi và hết lòng tin tưởng dâng Thánh Lễ này lên Thiên Chúa theo ý chỉ này.” Dân chúng làm theo lời ngài dạy, trừ một anh nông dân kia. Anh ta nói: “Các ông bà đúng là quá khờ. Hy vọng thế này chẳng ích lợi gì đâu. Dù có xem cả chục Thánh Lễ và cầu nguyện cả ngày cũng chẳng đuổi được con châu chấu.” Rồi anh ta ra khỏi nhà thờ và ra đồng trong khi những người khác tiếp tục dự Thánh Lễ sốt sắng và cầu xin Thiên Chúa Toàn Năng giải thoát họ khỏi nạn châu chấu. Dự Thánh Lễ xong, họ lập tức ra đồng và thấy lời cầu nguyện của họ đã được trả lời. Tất cả bầy châu chấu đã bay đi hết sạch. Họ sung sướng giang tay lên tạ ơn Thiên Chúa, còn anh nông dân kia cũng đứng ở đó và không thể tin nổi mắt mình. Sự cứng lòng của anh đã bị trừng phạt, vì bầy châu chấu sau khi đã bay đi được một quãng thì lượn vòng rồi đáp xuống như một đám mây trên mảnh ruộng của anh ta và bắt đầu tàn phá tất cả hoa mầu của anh ta. Anh nông dân khốn khổ kêu xin Chúa cứu nhưng vô ích: bầy châu chấu chỉ bay đi sau khi đã ngấu nghiến hết ngọn cỏ cuối cùng trên mảnh ruộng của anh ta.

Câu truyện dạy chúng ta về sức mạnh của Thánh Lễ và tội coi thường Thánh Lễ. Câu truyện này phải khơi dậy nơi lòng chúng ta lòng tin tưởng mãnh liệt nhất, để chúng ta có thể theo lời khuyên của tác giả Thư Do Thái: Vậy ta hãy dạn dĩ tiến lại gần Ngai Ân Sủng, hòng được đáp cứu đúng thời



(Dt 4:16). Ngai Ân Sủng mà Thánh Phaolô khuyên chúng ta tiến lại gần là gì? Đó là Bàn Thánh nơi Chiên Thiên Chúa chịu sát tế, nơi Người hiến mạng sống mình cho chúng ta, để chúng ta có thể tìm được Ân Sủng và lòng Thương Xót Chúa. Chúng ta phải hằng ngày tới ngai Ân Sủng này để nài xin ơn trợ giúp cho mọi nhu cầu của chúng ta. Chúng ta phải đến với lòng sốt sắng, kính cẩn và tin tưởng, vì đó là Ngai Ân Sủng, chứ không phải ngai báo oán; ngai Thương Xót chứ không phải ngai Công Lý; ngai mà ở đó chúng ta tìm được sự cứu giúp chứ không khước từ. Vì vậy, khi chúng ta cầu xin một điều gì đặc biệt trong Thánh Lễ, chúng ta hãy xin với đầy lòng tin tưởng.

“Lạy Cha Nhân Từ, xin nhìn đến Hy Tế Thánh con tin tưởng dâng lên Ngai Ân Sủng Cha, để xin Cha tha thứ các xúc phạm và trợ giúp con trong cơn khốn đốn. Con đặt hết tin tưởng vào Hy Tế Thánh này, vững lòng trông cậy sẽ nhận được từ Cha mọi điều con cần. Vì sự cao cả của Tế Vật vô biên, nên lễ dâng có giá trị vô biên và Hy Tế cũng có sức mạnh vô biên. Dựa trên ba lý do này, lạy Thiên Chúa là Cha của con. Cha không thể từ chối điều con xin, miễn là điều ấy làm vinh danh Cha và có ích cho con. Nhờ sự đền bù vô biên mà Hy Tế Thánh này dâng lên Cha, và xin Cha tăng thêm lòng tin tưởng để đền đáp Ngai Ân Sủng.”

Không có nhận xét nào